Dầu sống một trăm năm
Không tuệ, không thiền định
Không bằng sống một ngày
Có tuệ, tu thiền định.
Trong đạo Phật, thiền định và trí tuệ vô cùng quan trọng. Người tu hành muốn tiến đến Phật quả mà thiếu hai pháp tu trọng yếu nầy, thì không mong gì thành công được. Nhờ có thiền định mà tâm an lạc. Thiền định như một cái phao nổi. Người nào muốn không bị chết chìm trong biển khổ sanh tử, thì không còn cách nào hơn là phải bám chặt vào cái phao nổi thiền định. Tuy nhiên, có thiền định mà thiếu trí huệ, cũng không được. Theo Đại thừa, trí huệ và thiền định phải được quân bình đồng đẳng với nhau, không trước không sau. Như ngọn đèn và ánh sáng. Nhưng trí huệ, nhà Phật chia ra cũng có nhiều thứ: cạn, sâu, thấp, cao khác nhau.
Lực dụng của trí huệ là để biện biệt chánh tà, phải trái, chân ngụy. Đối với người đời, nếu thiếu trí huệ, thì họ cũng không thể thành công trong nghề nghiệp sinh tồn của họ. Cho nên, trong mọi lãnh vực sinh hoạt, lãnh vực nào cũng cần phải có trí huệ điều khiển. Trí huệ thế gian là do sự tích tụ kinh nghiệm mà có. Nói rõ hơn là nhờ họ học hỏi ở nhà trường cũng như qua sự tiếp xúc ứng xử theo môi trường xã hội. Đáng lý phải gọi là trí thức, chớ không phải là trí huệ. Nhưng vì người đời họ quen gọi như thế. Trí huệ thế gian, tùy theo trình độ học hỏi, tiếp cận kinh nghiệm sự sống mà cũng có sâu cạn, cao thấp khác nhau.
Người nào khéo biết ứng dụng trí huệ vào trong đời sống, thì tương đối, người đó đỡ khổ. Bất cứ việc làm nào, họ cũng dùng trí huệ để cân nhắc lợi hại, thành bại, nên hư, đắc thất v.v. Nhờ sự cân nhắc suy xét kỹ càng, nên việc làm của họ, ít bị thất bại và thường đưa đến có kết quả tốt đẹp hơn. Ngược lại, đối với những người không khéo biết vận dụng trí huệ để suy nghiệm kỹ càng trong những hành động, lời nói, việc làm của mình, thì những người nầy, kết quả thường bị thất bại, có đôi khi đưa đến đau khổ ngút ngàn. Thế nên, bất cứ hạng người nào và bất cứ lãnh vực sinh hoạt nào trong xã hội, đối với việc sử dụng trí huệ vào đời sống, thật là thiết yếu. Thiết yếu như hơi thở và mạng sống. Xin nhắc lại, người nào làm việc gì mà thiếu trí huệ soi sáng, thì khó mà được thành công tốt đẹp.
Trong Phật giáo, tùy loại chủng tánh mà có các loại trí huệ sai khác. Như trí huệ của hàng phàm phu, Nhị thừa, Bồ tát và đỉnh cao nhứt là trí huệ Phật. Dù phân chia có nhiều loại trí huệ, tùy chủng tánh và trình độ căn cơ sai khác, nhưng tựu trung cũng nhằm tiến đến mục đích giác ngộ giải thoát. Trên đường tiến đến Phật quả, mỗi hành giả đều phải tự trang bị cho mình một thứ trí huệ. Tu hành thiếu trí huệ, thì cũng như kẻ ở trong căn nhà tối. Tệ hại hơn nữa, như là kẻ bị mù mắt. Tuy chưa bị mù mà ở trong nhà tối, thì cũng như mù. Dù đôi mắt của người đó vẫn còn sáng. Cho nên, trí huệ đối với người tu mong cầu thoát ly sanh tử khổ đau, nó quan trọng còn hơn là mạng sống. Vì có trí huệ, mới biện biệt được lẽ chánh, tà, chơn, giả và từ đó mới nhận định đúng chân lý. Có nhận định đúng, hành đúng theo chân lý, thì mới mong thoát khổ. Bằng ngược lại, thì dù cho sống một trăm năm hay hơn, mà tâm hồn ngu si tăm tối, tạo vô số nghiệp quả, đi mãi trong khổ đau, thì thử hỏi sống như thế có nghĩa lý gì?
Nhơn loại đang sống trong ngôi nhà lửa. Một ngôi nhà lửa không chỉ riêng hạn cuộc trên quả địa cầu, mà cả Tam giới. Nhà lửa đang bốc cháy dữ dội. Hằng ngày, có biết bao tiếng kêu la thảm khốc, cầu cứu của nhơn loại. Dù kêu la trầm thống như thế, nhưng con người vẫn không có ý muốn chạy thoát ra khỏi ngôi nhà lửa. Nhơn loại cam tâm chịu chết cháy. Lửa si mê tham dục càng lúc càng bốc cháy cao ngọn. Một số ít người, dù có ý muốn chạy thoát ra, nhưng vì thiếu ý chí cương quyết và thiếu trí tuệ soi sáng, nên cuối cùng, họ cũng bị thiêu hủy trong ngọn lửa si mê tham dục.
Những ai muốn thoát khỏi ngọn lửa tham dục và thoát ra khỏi ngôi nhà lửa, Phật dạy, chỉ có một con đường duy nhứt, đó là thiền định và trí huệ. Trí huệ là ngọn hải đăng có công năng soi sáng và phá tan mọi bóng tối si mê. Người tu, nếu không có ánh sáng của ngọn hải đăng trí huệ nầy, thì chắc chắn khó được giải thoát. Nhờ có trí huệ mà con người tránh được mọi sai lầm. Nhưng muốn cho cây trí huệ luôn được tốt tươi, thì ta phải trồng nó cắm sâu vào đất thiền định. Thiếu đất thiền định, thì cây trí huệ sẽ không thể nào tươi tốt được.
Cũng như pháp cú trên, Phật cho chúng ta thấy, những ai dù sống lâu đến đâu, nhưng nếu không tu thiền định và trí huệ, thì chỉ là vô ích. Ngược lại, những ai mà biết tu thiền định và trí huệ, thì dù chỉ sống một ngày thôi, cũng là đầy đủ ý nghĩa. Lý do tại sao? Vì Phật không đặt định căn cứ vào thời gian. Vì thời gian không có nghĩa lý gì đối với một người đã đạt đạo. Thời gian có ra, chỉ đối với những ai còn bị dính mắc hai đầu. Nói rõ ra là những người còn quá nhiều tham vọng chấp trước. Còn đối với những người sống được với cái thực thể chơn thật rồi, thì đó mới thật là sống thực. Và đó mới chính là sống với con người thật của chính mình.
Pháp cú trên, Phật chỉ rõ con đường giác ngộ giải thoát. Con đường Tam vô lậu học: “Giới, Định, Huệ”, đó là một đại lộ thênh thang rộng lớn mà bất cứ hành giả nào muốn tiến đến Phật quả, thì không thể nào không đi trên đại lộ đó. Vì không có con đường nào khác hơn. Đó là con đường chư Phật Tổ đã đi qua. Dù hành giả đi qua bất cứ con đường nào khác, nhưng muốn tiến đến cái đích cuối cùng của sự giác ngộ giải thoát, thì nhứt quyết cũng phải đi con đường đó mà thôi.
Tóm lại, pháp cú trên, Phật cảnh giác cho mọi người thức tỉnh về lẽ sống. Sống mà với một tâm trí u mê, như một kẻ lữ hành đi trong đêm tối, thì thử hỏi làm sao tránh khỏi khổ đau sa đọa hầm hố. Sống như thế, dù có kéo dài sự sống đến đâu, cũng chỉ là một cái xác chết ướp khô. Đã thế, thì có chi là giá trị của sự sống. Nếu sự sống chỉ có biết ăn, mặc, ở không thôi, cả đời làm nô lệ cho dục vọng, miệt mài chạy theo nhu cầu vật chất, tâm trí luôn bấn loạn điên cuồng, không có một phút giây an lạc, hạnh phúc, thì, than ôi! Càng sống lâu chừng nào, chỉ là một kiếp sống thừa thãi, sa đọa, chìm sâu vào trong bóng tối khổ lụy ngàn đời mà thôi!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét